Ô Nhiễm Môi Trường Biển - Nguy Cơ Hiện Hữu

Người tạo: Admin - 25 tháng 11, 2020

Trong một nỗ lực toàn cầu đối phó với những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường biển, rất nhiều những hội nghị toàn cầu đã diễn ra. Cùng điểm qua những điểm mốc đáng chú ý của biến đổi khí hậu vài năm trở lại đây, Chung tay hành động vì một thế giới xanh và một nền kinh tế xanh toàn cầu.

Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đối mặt với làn sóng ô nhiễm môi trường biển ngày càng nghiêm trọng, đó là những hệ quả từ sức ép dân số, áp lực tăng trưởng nền kinh tế, khả năng quản lý, xử lý và sử dụng các nguồn tài nguyên biển kém hiệu quả.

Do đó, Việt Nam chúng ta cần xây dựng những giải pháp dài hạn, phù hợp đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các nước khác nhằm khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và chú trọng phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.

Ô Nhiễm Môi Trường Biển Là Gì?

Ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi về các tính chất đặc trưng của nước biển theo hướng xấu đi do nhiều nguyên nhân gây ra. Tạo ra những ảnh hưởng tồi tệ tới các chỉ số sinh hóa có trong nước biển. Đồng thời, gây hại cho các sinh vật biển và để lại nhiều hệ lụy cho con người chúng ta.

Các đại dương chiếm đến ¾ bề mặt trái đất, do đó việc nguồn nước biển ô nhiễm sẽ kéo theo hàng loạt các loài sinh vật biển đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, hệ sinh thái, cảnh quan biển, các nguồn lợi kinh tế của biển từ đó cũng sẽ gặp phải những tác động tiêu cực.

Cá chết hàng loạt do ô nhiễm môi trường biển
Cá chết hàng loạt do ô nhiễm môi trường biển

Môi Trường Biển Bị Ô Nhiễm Nặng Nề

Diện tích Biển Đông khoảng 3,5 triệu km2, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông theo công ước liên hợp quốc về luật biển 1982, đồng thời được công nhận là vùng biển giàu tài nguyên thiên nhiên bậc nhất, vị trí địa lý, chính trị vô cùng quan trọng ở khu vực và cả thế giới.

Hơn nữa, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam có trên 1.000.000 km² và hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ, bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa, đường bờ biển kéo dài khắp cả nước trên 3.260 km. Đây là một trong những tiền đề cho phép chúng ta hoạch định những chiến lược biển, xây dựng chúng theo xu thế phát triển bền vững cho một quốc gia có tiềm lực về biển.

Tuy nhiên thực trạng ô nhiễm môi trường biển hiện tại đang là vấn đề đáng báo động. Điều này sẽ kìm hãm nền kinh tế, làm trầm trọng thêm các vấn đề về ô nhiễm môi trường, an sinh xã hội, an ninh quốc gia, căng thẳng chính trị và nhiều thứ khác.

Thực Trạng Ở Việt Nam Và Thế Giới

Thế Giới

Người ta ước tính rằng 80% các nguồn ô nhiễm biển đáng kinh ngạc xuất phát từ đất liền. Các chất gây ô nhiễm trên đất liền, chẳng hạn như hoạt động công - nông nghiệp và các chất dinh dưỡng từ dòng nước thải đang góp phần bóp nghẹt đại dương - Ám chỉ những khu vực biển không còn duy trì được sự sống vì chúng có lượng oxy thấp hoặc bằng không. Hiện tại có khoảng 500 khu vực chết như thế này trên khắp thế giới.

Ngoài ra, quá trình đô thị hóa nhanh chóng ven biển của thế giới đã chứng kiến ​​sự phát triển của các siêu đô thị ven biển. Năm 2012, mười ba trong số 20 siêu đô thị của thế giới nằm dọc theo bờ biển. Dân cư và hoạt động kinh tế đã trực tiếp gây áp lực lên cơ sở hạ tầng xử lý chất thải và nước thải đô thị. Trong tình hình như vậy, thực hiện ​​giảm thiểu chất thải hiệu quả, tái chế và quản lý chất thải và nước thải hiệu quả là cách duy nhất để cải thiện sức khỏe của các đại dương chúng ta, nếu không hậu quả sẽ càng ngày càng thêm tồi tệ.

Việt Nam

Việt Nam có hơn 100 con sông, trong số đó đã có 10 con sông đang ở mức độ ô nhiễm nặng, điển hình như Sông Cầu, sông Thị Vải, Sông Đáy… Tất cả chúng đều đổ ra biển, kéo theo đó là những nguồn ô nhiễm tai hại từ đất liền khiến tình hình ô nhiễm, suy thoái môi trường biển thêm trầm trọng.

Hiện Việt Nam hiện đứng thứ tư thế giới về ô nhiễm liên quan đến rác thải biển (marine debris), đặc biệt là các loại rác thải nhựa. Một số khu vực ven biển và các cửa sông bị ô nhiễm nặng, các chất hữu cơ, vô cơ liên quan tới chất thải trong sinh hoạt và các hoạt động kinh tế. Đặc biệt là tình trạng xả rác thải nhựa, nilon và nhiều thứ khác.

Những khu vực rừng ngập mặn đang thoi thóp vì rác thải, chất thải. Ngoài ra, việc chất thải rắn và chất thải sinh hoạt phát sinh của hơn 28 tỉnh ven biển nước ta vào khoảng 14,03 triệu tấn/năm tương đương 38.500 tấn/ngày. Thật khủng khiếp!

Tuy nhiên, không chỉ có riêng Việt Nam mà vấn đề về khai thác các nguồn tài nguyên và bảo vệ an toàn môi trường biển của nhiều khu vực, quốc gia đang đứng trước những nguy cơ và thách thức không hề nhỏ. Nguồn tài nguyên đang bị vét cạn kiệt, môi trường biển ô nhiễm đến mức đáng báo động. Gây ra vô số các thiệt hại trầm trọng, cản trở sự phát triển và ổn định kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia.

Sự Thật Báo Động

Hơn 220 triệu tấn nhựa được sản xuất mỗi năm. Nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng rằng lượng nhựa bị thải bỏ còn nhiều hơn số lượng cá trong các đại dương của chúng ta vào năm 2050. 60% - 90% ô nhiễm biển được tạo thành từ các loại nhựa khác nhau. Năm 2006, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc ước tính rằng mỗi dặm vuông của đại dương chứa 46.000 mảnh nhựa trôi nổi. Một chai nhựa có thể tồn tại tới 450 năm trong môi trường biển.

Nhựa là một trong những chất gây ô nhiễm nhân tạo lớn nhất trong môi trường biển, ước tính rằng tám triệu tấn chất thải nhựa đang tìm đường vào đại dương của chúng ta mỗi năm. Sự tích tụ của rác nhựa - chai và nilon, nhựa được tìm thấy trong các bộ lọc thuốc lá, ống hút và các loại vĩ mô khác ở những khu vực ven biển bị tuồn ra biển khi mưa lớn, gây ô nhiễm vùng nước ven biển và cuối cùng đi ra biển, trở thành những vật liệu gây ô nhiễm tai hại. 

Tác hại do ô nhiễm nhựa là rất lớn. Nó bóp nghẹt động vật hoang dã trên và dưới dòng nước. Ước tính có một triệu con chim biển và một số lượng rùa biển không xác định bị chết mỗi năm do các mảnh vụn nhựa làm tắc nghẽn đường tiêu hóa của chúng, và các động vật biển đủ loại có thể bị rối và mất khả năng hoạt động bởi dây câu và túi nhựa. Cá và các sinh vật biển khác không may ăn phải nhựa, sau đó tìm đường vào chuỗi thức ăn của chúng ta.

Ô nhiễm môi trường biển do rác thải nhựa
Ô nhiễm môi trường biển do rác thải nhựa

Việt Nam Xả Rác Thải Nhựa Ra Biển Nhiều Thứ 4 Thế Giới

Theo các số liệu ô nhiễm môi trường biển được báo cáo bởi Bộ Tài nguyên Môi trường nước ta, chỉ trong vòng 50 năm trở lại đây, lượng nhựa tiêu dùng của nước ta tăng nhanh không ngừng, hiện tại đã tăng gấp 20 lần, dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng gấp đôi trong chu kỳ 20 năm tới và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Ðáng buồn hơn, Việt Nam còn được đánh giá là 1 trong các quốc gia phát thải nhựa nhiều nhất, với khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm. Chỉ số tiêu thụ nhựa trên người không ngừng tăng từ 3,8kg/năm/người vào năm 1990 lên đến 41kg/năm/người  năm 2016. Ðáng nói hơn, việc nhập khẩu nguyên phế liệu từ nhựa vẫn tăng từng ngày theo cấp số nhân, cụ thể, sản lượng nhập khẩu năm 2016 là 18.548 tấn, đến năm 2017 con số đã là 90.839 tấn và tháng 9/2018 đạt 175.000 tấn.

Ô nhiễm, suy thoái môi trường biển nước ta đang không ngừng tăng với tính chất và mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trầm trọng tới môi trường sinh thái, sức khoẻ và kinh tế xã hội của nước ta.
Trong vùng biển của Việt Nam hiện có khoảng 100 loài hải sản đang nguy cấp khác nhau và trên 100 loài đã và đang được đưa vào danh Sách Đỏ các loài có nguy cơ tuyệt chủng của Việt Nam. Nguồn lợi hải sản đang cạn kiệt dần, trữ lượng, sản lượng và khối lượng đánh bắt giảm tới 16% hàng năm.

Năng suất tôm nuôi xen canh trong các khu rừng ngập mặn giảm sút từ 200kg/hecta/vụ vào năm 1980 đến nay con số này chỉ còn 80kg/hecta/vụ. Trong khi đó, trước đây 1hecta rừng ngập mặn có thể khai thác tới 800kg thuỷ sản thì hiện tại chỉ còn tỉ lệ 1/20 so với trước.

Ô Nhiễm Và Suy Thoái Môi Trường Biển Không Ngừng Gia Tăng

Các báo cáo tình hình môi trường của Bộ Tài nguyên Môi trường nước ta cho thấy, các con sông thải ra biển từ 880km3 nước và hơn 270 – 300 triệu tấn bùn thải bể tự hoại khác nhau hàng năm, kéo theo đó là nhiều chất gây ô nhiễm môi trường biển khác như các chất vô cơ, hữu cơ, các chất dinh dưỡng, các kim loại nặng và nhiều chất độc hại khác từ các khu dân cư và nhà ở tập trung, những khu công nghiệp và khu đô thị, các trang trại nuôi trồng thủy hải sản ven biển, các vùng sản xuất chế biến công - nông nghiệp.

Những loại rác khó phân hủy hoặc không phân hủy được trôi nổi ven biển, ngoài khơi sau đó lắng xuống đáy biển, các loại rác phân hủy được  hòa tan và làm thay đổi các tính chất sinh hóa của nước biển. Trong khi tạo ra một nửa lượng oxy của thế giới, biển cũng đóng vai trò là một trong những bể carbon tự nhiên quan trọng nhất của thế giới, hấp thụ hơn một phần tư lượng khí CO2 được thải vào khí quyển bởi hoạt động của con người. Trong khi điều này chống lại rất nhiều khí nhà kính trong khí quyển, gây những ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường biển.

Khí CO2 được đại dương hấp thụ, nó sẽ thay đổi thành phần hóa học của nước biển trong một quá trình gọi là axit hóa. Trong lịch sử, trên thang độ pH từ 1 đến 14 (thước đo mức độ axit), đại dương đã ở khoảng 8.2, có tính kiềm nhẹ. Nhưng kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, pH đại dương đã giảm 0,1 đơn vị - tương đương với mức tăng axit 30% và sự thay đổi nhanh chóng của pH trong đại dương khoảng từ 200 đến 300 triệu năm.nAxit hóa đại dương có hậu quả sinh học vô cùng nghiêm trọng. Nhiều sinh vật biển có vỏ và bộ xương canxi cacbonat, có thể bị ăn mòn khi pH giảm.

Sự phát triển của các rạn san hô cũng hết sức mong manh, đặc biệt là san hô vùng nước sâu, cùng với nhiều loài sinh vật khác trong đại dương, làm mầm mống cho sự suy thoái mạng lưới thức ăn trong các hệ sinh thái biển. Những thay đổi có tính hóa học của đại dương cũng có thể cản trở sự tăng trưởng và sinh sản của nhiều loài sinh vật. Các dự báo chính xác về tác động của axit hóa đại dương vẫn đang được nghiên cứu, nhưng rõ ràng hệ sinh thái đại dương, mạng lưới thức ăn biển và đa dạng sinh học đang đứng trước nhiều nguy cơ.

Tất nhiên, điều này sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực và kinh tế của thế giới, đồng thời ảnh hưởng đến ngành công nghiệp đánh bắt và du lịch thương mại. Các quốc gia sẽ mất tổng cộng 1 tỷ đô la ước tính từ các dịch vụ được cung cấp bởi các hệ sinh thái biển của mình. Hơn nữa, khi axit hóa trở nên tồi tệ hơn và mặt biển ấm lên, khả năng hấp thụ CO2 của đại dương trở nên kém đi. Kết hợp cùng nhiều yếu tố ô nhiễm khác làm tăng cường và tồi tệ thêm biến đổi khí hậu trên hành tinh chúng ta.

Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Biển

Có nhiều nguyên nhân ô nhiễm môi trường biển như hiện nay. Tình trạng này chính xác là các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các nguồn thải công nghiệp, nông nghiệp và phương tiện vận tải biển, nguồn thải sinh hoạt và nhiều tác nhân khác.

Nguyên Nhân Tự Nhiên

Quá trình phát triển của nhân loại luôn luôn gắn liền với các yếu tố tự nhiên, tuy nhiên chính những yêu cầu phát triển, hiện đại và đô thị hóa thì chính những yếu tố tự nhiên chúng ta tiếp xúc hàng ngày đó vô tình lại là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

- Sự phun trào nham thạch dưới lòng biển do các núi lửa dưới lòng biển còn hoạt động cũng gây nên hiện tượng chết hàng loạt của các loại sinh vật. Khiến nguồn nước thay đổi theo hướng tiêu cực hơn.

- Sự bào mòn, sạt lở núi đồi, thiên tai, lũ lụt cũng gây ra hiện tượng nan giải cho môi trường.

- Triều cường dâng cao và bất thường hơn gây mất kiểm soát và làm ô nhiễm các dòng sông, khu vực ven biển.

- Nhiều chất muối khoáng có nồng độ quá cao bị hòa tan, trong đó có nhiều chất gây ung thư, tiêu biểu như Asen và các nguyên tố kim loại nặng…

Nguyên Nhân Do Con Người

Việc sử dụng điện, chất nổ, các loại chất độc hóa học để đánh bắt các loại thủy hải sản của con người sẽ làm cho các loài sinh vật chết hàng loạt. Việc này có thể dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài. Ngoài ra, việc khai thác này còn rất nguy hại do các chất độc phát sinh từ các loại chất nổ tồn động trong môi trường nước. Các vùng rừng ngập mặn và các rạn san hô chưa được bảo tồn tốt làm mất cân bằng sinh thái dưới biển và ảnh hưởng đến môi trường sống của nhiều loài lưỡng cư.

Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và nông nghiệp,… Chưa được xử lý tối ưu từ các khu đô thị, các khu dân cư hoặc các nhà máy sản xuất đổ thẳng ra sông, chảy thẳng ra biển chính là nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường biển nặng nề. Ngoài ra, việc phát thải bừa bãi, thiếu ý thức từ các hoạt động du lịch và chính người dân. Rác thải bị tồn đọng nhưng không có các giải pháp xử lý triệt để dẫn đến ùn ứ gây nên các hậu quả ô nhiễm biển thêm nghiêm trọng.

Việc khai thác dầu cũng góp phần làm nước biển bị ô nhiễm, các sự cố tràn dầu, hiện tượng dầu loang, các sự cố hàng hải làm cho nước biển nhiễm các chất độc hại. Hàng năm, có khoảng 50 triệu tấn các chất thải rắn đổ ra biển hàng năm trên thế giới, gồm cặn bã, rác thải và phế liệu công nghiệp, các chất phóng xạ. Một số chất thải nằm rải rác ven các bờ biển. Một số khác sẽ phân hủy và hòa tan và tích tụ trong toàn khối nước biển.

Nhiều Nguồn Chất Thải Gây Ô Nhiễm

Phần lớn thiệt hại mà con người gây ra trên các đại dương trên thế giới là không thể thống kê chính xác. Theo Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA), 80% ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền. Ô nhiễm này được phân loại thành hai nguồn khác nhau: điểm và không điểm.

Ô nhiễm nguồn điểm đề cập đến những nguồn rõ ràng, cục bộ và có thể xác định được. Chúng bao gồm các đường ống xả thải hoặc các công ty có chất thải công nghiệp bơm trực tiếp ra biển. Các nguồn không phải là điểm bao gồm tất cả những chất gây ô nhiễm nhỏ, không thể chấp nhận được, bao gồm khí thải xe hơi và nước thải nông nghiệp.

Ô nhiễm xâm nhập vào đại dương của chúng ta theo một trong ba cách chính. Nó có thể xảy ra thông qua việc xả trực tiếp hoặc có chủ ý, thông qua dòng chảy từ đất qua sông và và các cơn mưa cuốn chúng xuống lòng đại dương, hoặc thông qua các chất ô nhiễm có từ khí quyển.

- Xả trực tiếp hoặc cố ý:

Xả trực tiếp bao gồm nước thải từ các nhà máy công nghiệp, rác thải cố ý vứt xuống biển . Thông thường, chất thải từ các nhà máy sản xuất bao gồm chất thải độc hại, xâm nhập vào chuỗi thức ăn ở mức thấp. Sau đó, nó chuyển ngấm ngầm trong toàn bộ hệ sinh thái. Đó là nguyên nhân tại sao các loài sinh vật biển săn mồi lớn như cá ngừ, cá marlin, cá heo và cá mập thường chứa hàm lượng thủy ngân cao và các chất độc nguy hiểm khác. Làm cho chúng không phù hợp cho con người, đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai.

Ví dụ, đối với những người thường xuyên ăn thịt cá mập, các nghiên cứu cho thấy rằng lượng thủy ngân có trong cơ thể họ methyl nhiều hơn 2.000% người bình thường. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người trầm trọng, nồng độ độc tố của cơ thể tăng có thể dẫn đến bệnh tật, đột biến, thay đổi hành vi, vô sinh, ức chế tăng trưởng và tử vong. Bởi vì thức ăn chăn nuôi thương mại thường chứa các độc tố có trong cá, độc tố cũng có thể nhiễm trên thịt và các sản phẩm dinh dưỡng từ sữa.

- Xả thải cố ý:

Xả thải có chủ ý cũng bao gồm rác thải của con người, phần lớn trong số đó là nhựa. Các nhà khoa học ước tính rằng tổng khối lượng rác nhựa trong đại dương có thể lên tới 100.000.000 tấn. Nhựa không làm suy giảm cách mà các vật liệu khác làm. Nó tích lũy và gây ra một mối đe dọa đáng kể cho sinh vật biển, thông qua sự vướng víu hoặc nuốt phải.  Nhiều sinh vật dễ bị vướng vào chất thải nhựa, đặc biệt là lưới đánh cá bị loại bỏ.

Số phận này có thể dẫn đến hạn chế di chuyển, đói, chấn thương, và trong những loài cần phải nổi lên hoặc duy trì chuyển động để thở, nghẹt thở. Ăn nhựa cũng là một mối quan tâm chính, và xảy ra trong hầu hết các chuỗi thức ăn. Động vật không thể dễ dàng tiêu hóa được nhựa và chúng sẽ thiếu dinh dưỡng, dẫn đến chết đói, nhiễm trùng và tử vong. Đây là một vấn đề phổ biến rộng rãi trên toàn cầu trong các khu vực bị ô nhiễm cao.

- Dòng chảy từ đất liền:

Nguồn ô nhiễm biển lớn thứ hai là dòng chảy từ đất liền, từ cả các trang trại nông nghiệp, các khu công nghiệp và thành thị. Dòng chảy có thể bao gồm đất, phân bón, thuốc trừ sâu, các hạt giàu cacbon, nitơ, phốt pho và hóa chất chảy ra từ các đường ống xả thải. Các hoạt động khai thác đóng góp chính trong các loại ô nhiễm này. Nó làm cho đất và khoáng chất chảy ra biển qua sông và cửa sông. Các dòng đất, mùn thải và các hợp chất vô cơ chảy vào đại dương là mối đe dọa đối với các hệ sinh thái biển vì nó dẫn đến sự bồi lắng và sự đóng băng của dòng nước ven biển.

Điều này làm xóa sổ dần các rạn san hô và ngăn chặn sự tiếp cận của thực vật biển với ánh sáng mặt trời, ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của chúng. Quan trọng nhất, các chất dinh dưỡng dư thừa chảy ra từ các cửa sông và đại dương có thể khiến tảo và sinh vật phù du nở hoa lớn đến mức chúng sử dụng hết oxy của nước. Nếu tình hình trở nên nghiêm trọng, nó có thể dẫn đến tình trạng thiếu oxy. Vấn đề này nghiêm trọng đến mức không gì có thể tồn tại được.  Nó phổ biến đến mức Viện Tài nguyên Thế giới đã công nhận 375 vùng ven biển thiếu oxy trên khắp hành tinh.

- Các chất ô nhiễm từ khí quyển:

Cuối cùng, việc giải phóng các chất ô nhiễm ra khí quyển là một đóng góp đáng kể làm tăng tốc độ ô nhiễm biển. Nhưng khi sự nóng lên toàn cầu khiến carbon dioxide trong khí quyển tăng lên, các đại dương hấp thụ nhiều hơn, khiến chúng có tính axit cao hơn. Tính axit này làm tổn hại và làm suy giảm các cấu trúc biển được làm từ canxi cacbonat, ảnh hưởng xấu đến san hô nước nông và sâu.

Vỏ bảo vệ của một số loài động vật có vỏ vôi hóa trở nên mong manh do quá trình axit hóa đại dương, khiến các loài này gặp nguy hiểm và có sự phân nhánh mạnh trong trong chuỗi thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến sự bền vững của kinh tế biển toàn cầu.

Tương tự, mức độ carbon dioxide tăng lên tác động tiêu cực đến khả năng tái sinh và phát triển của san hô bằng cách giảm khả năng sản xuất các nhánh của chúng. Axit hóa là một vấn đề nghiêm trọng có thể phá hủy hệ sinh thái rạn san hô khi có trên 1.000.000 loài dựa vào hệ sinh thái này để sinh tồn.

Ô nhiễm biển gây nguy hại cho các loài sinh vật
Ô nhiễm biển gây nguy hại cho các loài sinh vật

>> Xem thêm: 12 cách để bảo vệ môi trường

Hậu Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường Biển

Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với các đại dương của chúng ta là ô nhiễm do chính con người tạo ra. Nhựa bị loại bỏ và các chất thải sinh hoạt khác, thải ra từ hoạt động nông nghiệp và hóa chất công nghiệp cùng nhau tìm đường ra biển với những hậu quả tàn khốc đối với sinh vật biển và môi trường sống mà chúng phụ thuộc. Tai nạn vận chuyển và sự cố tràn dầu đóng góp thêm độc tố vào đại dương và nhiều hơn thế nữa những hậu quả để lại.

- Làm suy thoái đa dạng các hệ sinh thái biển bao gồm cả động thực vật, điển hình là hệ sinh thái san hô.

- Phá hoại và gây ra sự tuyệt chủng một số loài đặc chủng kể cả không đặc chủng, hải sản gần bờ, tảo, vi sinh vật và nhiều loại như vậy.

- Mất mỹ quan, mất an toàn cũng như khiến doanh thu của các ngành kinh tế biển bị thiệt hại nặng nề.

- Làm hỏng hỏng vật tư trang thiết bị máy móc, các thiết bị phục vụ khai thác tài nguyên biển và vận chuyển hàng hải.

- Tác động sâu rộng và kìm hãm thực lực của nhiều nền kinh tế biển.

- Thách thức phát triển bền vững nền kinh tế biển: 

Mức độ ô nhiễm như trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến hệ sinh thái biển, từ đó tác động tiêu cực đến sinh kế của người dân vùng biển cũng như nền kinh tế.Cụ thể, tính đến nay diện tích rừng ngập mặn đã mất khoảng 15.000 ha/năm, khoảng 83% các rạn san hô trong vùng biển Việt Nam thuộc diện báo động đỏ, trong đó có tới 56% ở mức cao đến rất cao, tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với các thảm cỏ, thảm thực vật biển, vô số các hệ sinh thái biển và ven biển khác.

Rừng ngập mặn bị tàn phá do ô nhiễm nguồn nước biển
Rừng ngập mặn bị tàn phá do ô nhiễm nguồn nước biển

Chúng Ta Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường Biển

Quản Lý Các Hoạt Động Khai Thác

Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là một trong những thách thức để bảo vệ môi trường biển có hiệu quả nhất. Cần phải có những hoạt động quyết liệt bao gồm thanh kiểm tra,, tuần tra và kiểm soát các phương tiện đánh bắt, khai thác tài nguyên trên biển.

Nghiêm cấm các hành vi sử dụng thuốc nổ, kích điện hay dùng hóa chất độc hại. Những hành động này làm cho thủy sản chết hàng loạt và một số loài có khả năng tuyệt chủng. Cần phát hành những chế tài xử phạt nghiêm ngặt với những hành vi cố ý hoặc không chấp hành quy định của pháp luật.

Ngoài ra, cần quy hoạch các hoạt động đánh bắt thủy hải sản bài bản và lâu dài theo các khu vực, các cụm, tụ điểm công nghiệp và các làng nghề… Để tránh tình trạng người dân khai thác không kiểm soát, không phù hợp và gây khó khăn trong quy trình quản lý như hiện nay.

Xử Lý Khí Phát Thải Từ Hoạt Động Công Nghiệp

Nước thải, khí thải và chất thải từ các hoạt động sản xuất, chế biến công nghiệp lẫn nông nghiệp là nguồn gây ô nhiễm môi trường biển đáng chú ý. Do đó, nhà nước cần có chế tài với những công ty, buộc họ phải xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, nước thải đạt chuẩn trước và sau khi phát thải ra môi trường.

Các Giải Pháp Sinh Học

Bên cạnh việc xây dựng các hệ thống quản lý lẫn xử lý ô nhiễm… Để kiểm soát tình hình… Chúng ta nên quan tâm đến một số nguyên liệu có khả năng thải độc, khử khuẩn có nguồn gốc hữu cơ từ thiên nhiên để góp phần làm sạch môi trường. Như vôi, các nguyên tố than hoạt tính…Đồng thời, tích cực phát động những dự án dọn dẹp và vệ sinh môi trường theo định kỳ, chú trọng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.

Trong những năm trở lại đây, nước ta đang gặp khủng hoảng trong việc đối phó với ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đặc biệt là với môi trường biển. Mặc dù biển có sức ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh tồn cũng như kinh tế của chúng ta. Bảo vệ biển là bảo vệ sự sống của nhân loại, đồng nghĩa với bảo vệ tương lai của chính nhân loại.

Phát Triển Kinh Tế Xanh

Phát triển kinh tế xanh là một khái niệm mới nổi nhằm khuyến khích quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên đại dương hoặc màu xanh của chúng ta nhằm đối phó với thực trạng ô nhiễm môi trường biển hiện nay. Nó đặc biệt nhấn mạnh mối liên kết chặt chẽ giữa đại dương, biến đổi khí hậu và phúc lợi của người dân trong khối thịnh vượng chung. Bao gồm sự công bằng và sự tham gia của công chúng vào việc ra quyết định trên hàng hải và khu vực ven biển.

Nó hỗ trợ tất cả các mục tiêu phát triển bền vững SDGs của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là SDG14 cuộc sống dưới nước và nhận ra rằng điều này đòi hỏi giữa các nước trên thế giới phải phối hợp với nhau. Một khái niệm mới nhưng đầy tham vọng nhằm quản lý, bảo vệ cũng như bảo tồn đại dương của chúng ta ngay bây giờ, vì lợi ích ở hiện tại và thế hệ tương lai chúng ta.  Nền kinh tế xanh vượt ra ngoài khuôn khổ của nền kinh tế đại dương trên thế giới ám chỉ cơ chế tăng trưởng kinh tế bền vững và an toàn.

Trong mô hình kinh tế như thường lệ, các quốc gia công nghiệp có quy mô lớn đã chứng kiến ​​sự phát triển của các nền kinh tế biển của họ thông qua việc khai thác tài nguyên hàng hải và hàng hải - ví dụ như thông qua vận chuyển, đánh bắt cá thương mại và khai thác dầu, khí đốt, khoáng sản và khai thác mỏ các ngành công nghiệp - thường không có tác động đến các tác động của chúng đối với sức khỏe hoặc năng suất của các tài nguyên tương tự như vậy.

Từ đó các quốc gia, quốc đảo nhỏ, có nguồn tài nguyên biển rộng lớn sẽ có cơ hội  để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết nạn thất nghiệp, an ninh lương thực, an sinh xã hội và nghèo đói. Những vấn đề mà họ bị tổn thất nhiều nhất từ ​​sự suy thoái tài nguyên biển.

Tương tự như khái niệm kinh tế xanh, mô hình kinh tế xanh nhằm cải thiện phúc lợi xã hội và công bằng xã hội của con người, đồng thời giảm đáng kể các rủi ro do môi trường và khan hiếm sinh thái. Nó cung cấp một mô hình bao gồm các quốc gia ven biển có nguồn lực nhưng thiếu khả năng quản lý tài nguyên biển của họ, dần dần mở rộng lợi ích của các tài nguyên đó cho tất cả mọi người.

Nền kinh tế xanh không chỉ là cơ hội về thị trường mà nó còn cung cấp cho việc bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên xanh vô hình khác hơn như bảo vệ lối sống truyền thống bám biển, quá trình cô lập carbon và khả năng phục hồi tài nguyên ven biển để giúp các quốc gia dễ bị tổn thương giảm thiểu các tác động thường xuyên của biến đổi khí hậu.

Tổng thư ký Patricia Scotland: Từ Hiến chương xanh sẽ định hướng các nước phát triển cách tiếp cận tổng hợp để xây dựng nền kinh tế xanh, bao gồm cả các lĩnh vực thường bị bỏ qua vãem thường như duy trì các nghề đánh bắt cá thủ công cũng như vai trò của phụ nữ và thanh niên ở các làng nghề.

Kinh Nghiệm Của Một Số Quốc Gia

Hoàn Thiện Pháp Luật Về Biển

Hiện nhiều quốc gia trên thế giới đang xây dựng và hoàn thiện các hệ thống, công cụ pháp lý về vấn đề khai thác hợp lý tài nguyên biển đồng thời bảo vệ môi trường biển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.

Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm từ các nước phát triển đi trước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển và đi đôi với việc bảo vệ toàn diện môi trường biển, khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên biển.

- Australia:

Cụ thể ban hành Luật Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường biển, sau đó áp dụng một cách toàn diện trên vùng biển của mình. Việc xây dựng, hoàn thiện và ban hành các bộ luật, văn bản pháp luật về biển đã tạo các cơ sở pháp lý đáng tin cậy đảm bảo cho việc thực hiện thành công công tác quản lý, xử lý và khai thác một cách hợp lý tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển một cách nhất quán ở nhiều quốc gia có biển trên thế giới.

Sau khi hành pháp chính sách biển quốc gia, Australia đã đưa ra hàng loạt những điều chỉnh liên quan đến cơ cấu tổ chức, bao gồm việc cho ra đời một Ủy Ban Bộ Trưởng Biển quốc gia cùng nhóm cố vấn Biển quốc gia, Văn Phòng Biển quốc gia và các ban chỉ đạo quy hoạch biển.

Trong đó Ủy ban Bộ trưởng Biển quốc gia có chức năng tập trung vào việc điều phối các chính sách biển, giám sát các kế hoạch phân vùng biển, xây dựng kế hoạch, chương trình thực thi chính sách Biển quốc gia, đề xuất việc ưu tiên nghiên cứu các vấn đề về biển liên quan đến phát triển và thi hành chính sách biển Australia.

- Nhật Bản:

Sau khi ban hành các bộ luật cơ bản về biển vào năm 2007, Nhật Bản sau đó đã thành lập một cơ quan thông tin chuyên về chính sách biển tổng hợp đứng đầu bởi Thủ tướng, nhằm thúc đẩy các biện pháp và lợi ích về biển một cách có tập trung và được tổng hợp chặt chẽ.

Quản lý tổng hợp bờ biển và thềm lục địa cũng được áp dụng phổ biến tại nước này với mục đích duy trì nguyên vẹn hệ sinh thái vùng vịnh, thông qua các công tác bảo vệ và bảo tồn, khuyến khích sử dụng tài nguyên biển và vùng vịnh một cách bền vững, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến đánh bắt, khai thác nguồn lợi từ biển là chủ yếu, ngăn chặn những thiệt hại lớn do thiên tai gây ra.

Để giải quyết hiệu quả các vấn đề ô nhiễm môi trường biển có nguồn gốc từ trong và ngoài đất liền, nhiều chương trình hành động thiết thực nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường biển nghiêm trọng tại các tụ điểm, khu vực, bị ô nhiễm hoặc suy thoái nặng đã được triển khai. Trong đó quản lý tổng hợp bờ biển và thềm lục địa đã được thừa nhận là khung quản lý hiệu quả nhất và đạt được kết quả khả quan nhất từng được triển khai. Bộ luật cũng đồng thời áp dụng được cho nhiều vùng vịnh khác nhau với nhiều vấn đề khác nhau trên thế giới.

Việc xây dựng, ban hành các bộ luật và văn bản pháp luật về biển như vậy đã tạo cơ sở pháp lý cực kỳ vững chắc, đảm bảo cho việc thực hiện thành công công tác quản lý toàn diện, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên đồng thời bảo vệ môi trường biển.

Kiểm soát các vấn đề dầu loang ảnh hưởng môi trường biển
Kiểm soát các vấn đề dầu loang ảnh hưởng môi trường biển

>> Xem thêm: 8 cách đơn giản để bảo vệ môi trường

Quản Lý Thống Nhất Thông Tin Dữ Liệu Biển

Phương thức quản lý các nguồn lợi biển dựa trên cơ sở cộng đồng hóa đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những nước phát triển đã được thừa nhận là phương thức rất hiệu quả, tiết kiệm mục đích duy trì và quản lý nguồn lợi thủy hải sản, bảo vệ đa dạng sinh thái biển và đáp ứng các mục đích bảo tồn khác cũng như nhu cầu sinh kế của người dân.

Điều tra cơ bản biển được hiểu là nhiệm vụ quan trọng, đóng vai trò nền tảng và được tăng cường đầu tư hoạch định hết sức mạnh mẽ. Điều này đã tăng tính chủ động, thúc đẩy sự tham gia tích cực của cộng đồng trong việc cùng nhà nước chia sẻ, gánh vác trách nhiệm trong việc quản lý và bảo tồn có hiệu quả các nguồn lợi từ biển.

Tại các quốc gia ven biển, điều tra cơ bản trên biển cần được xem như là nhiệm vụ hàng đầu. Các số liệu điều tra cơ bản này sẽ cung cấp nhiều thông tin quan trọng, giúp công tác hoạch định và triển khai các chính sách biển đạt hiệu quả cao hơn đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học để bố trí hợp lý không gian và phát triển các vùng biển sao cho phù hợp với sinh thái từng vùng, hướng tới mục tiêu duy nhất là sử dụng bền vững nguồn tài nguyên và bảo vệ cho môi trường biển đang đứng trước nhiều nguy cơ.

Cùng với đó, thời đại 4.0 phát triển nên việc lưu giữ số liệu và quản lý, cung cấp thông tin cũng vô cùng thuận lợi, bên cạnh đó hệ thống thông tin GIS ứng dụng trên các website cũng đã phát triển mạnh. Việc thu thập, tổ chức, quản lý và xử lý thông tin liên quan đến các vấn đề trên biển rất được quan tâm tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Australia…

- Tại Australia:

Đã có rất nhiều nỗ lực nhằm tăng cường khả năng tiếp cận, truy cập thông tin và các dữ liệu về biển, có thể kể đến như việc vận hành khối hệ thống Blue Page 2000. Đây là một trong những trang thông tin có thể truy cập vào các dữ liệu biển, đặc biệt là dữ liệu khu vực ven bờ và vùng vịnh vốn được quản lý lỏng lẻo trong nước.

Bên cạnh các công cụ tra cứu và truy xuất dữ liệu, Australia còn rất quan trọng đến việc xây dựng dữ liệu bản đồ, mở đường cho các chính sách hoạch định thông qua ứng dụng của kỹ thuật WebGIS. Việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng về chính sách, pháp luật liên quan đến vấn đề khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đồng thời bảo vệ môi trường biển cũng được họ quan tâm, chú trọng đẩy mạnh.

- Tại Mỹ :

Cục Khí tượng Hải dương của Mỹ và một số cơ quan khác đã áp dụng hệ thống danh bạ biển đa mục đích gồm nhiều ứng dụng về GIS để hiển thị các thông tin về biển. Bên cạnh đó Mỹ còn xây dựng một hệ thống có tên Liên Lạc Và Quản lý Dữ Liệu. Đây là một hệ thống nhánh trong toàn bộ hệ thống quan trắc biển được tổng hợp giúp quản lý thống nhất các thông tin dữ liệu biển thu thập được từ các cơ quan liên quan.

Để phổ biến và đưa vào rộng rãi trong cộng đồng, ngay trong các chính sách biển quốc gia cũng đã xác định việc giáo dục và đào tạo là quan trọng để nâng cao hiểu biết, cải thiện tri thức về khoa học và môi trường, thông qua các con đường giáo dục chính quy hoặc phi chính quy, cần tăng cường các dự án xã hội, liên tục đánh giá và cải tiến chính sách chính là nền tảng quan trọng để họ phát triển bền vững trong tương lai.

- Nhật Bản:

Nhằm tăng các mối quan tâm và nâng cao hiểu biết về biển trong toàn dân, Chính phủ Nhật Bản đã liên tục phổ biến và tuyên truyền, thúc đẩy giáo dục trong xã hội và trong trường học về biển, tuyên truyền phổ cập sâu rộng thông tin liên quan đến Luật Biển, thực hiện phổ cập hóa thông qua các hoạt động du lịch, vui chơi trên biển.

Bên cạnh đó, những năm qua, họ cũng không ngừng thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương quốc tế về các vấn đề trên biển, các lĩnh vực liên quan là thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật biển, điều tra, cứu nạn trên biển, phòng tránh các thảm họa và kiểm soát chặt chẽ tội phạm trên biển, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao phục vụ cho các lĩnh vực kinh tế biển.

Kết Quả Khả Quan

Bên cạnh sự thờ ơ, tắc tránh của một số các quốc gia khi đối diện với thực trạng ô nhiễm môi trường biển. Chúng ta cũng không thể bỏ qua những nỗ lực không ngừng của những cá nhân, tổ chức, quốc gia đã và đang chống lại sự suy thoái môi trường biển và biến đổi khí hậu.

Một số kết quả khả quan đã được ghi nhận, tuy vẫn còn chưa thấm vào đâu nhưng đó cũng là động lực và là nguồn cảm hứng to lớn nhắc nhở chúng ta phải cùng nhau chung tay trong một nỗ lực toàn cầu nhằm chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu.

Những nỗ lực bảo vệ môi trường biển có kết quả khả quan
Những nỗ lực bảo vệ môi trường biển có kết quả khả quan

Tags: Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường biển, hậu quả của ô nhiễm môi trường biển đảo, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển trên thế giới, thực trạng ô nhiễm môi trường biển trên thế giới, hiện trạng ô nhiễm môi trường biển Việt Nam, hình ảnh ô nhiễm môi trường biển.

Tin cùng chuyên mục

Bình luận